Tải lên Xóm vào ngày 29.01.2011
Xem 734 Bình luận 16 Yêu thích 5
Ảnh cùng tác giả:
Thông tin Exif:
width800
height532
rgbUncalibrated
SoftwareAdobe Photoshop Elements 2.0
Street corner between Queenstown Road and Robertson Street, SW8, London (Góc phố giữa Đường Queenstown và Phố Robertson, SW8, Luân Đôn)
Hình HDR này được chụp khi đang đi trên xe buýt và góc độ làm hưng phấn tôi do tôi được xem một vài bức ảnh trên mạng tại trang photo.net chụp đường phố và tòa nhà ở góc độ rất không bình thường và khá thú vị này. Cái làm cho người xem hứng thú là mắt mình cứ phải nhảy giữa hai lối ra, gây ra một ảnh hưởng rất thú vị về quang học.
Bình luận - Yêu thích
  • hoangduytranuk  Offline  ( 93.97.89.198 )
    Phép lạ thứ hai xảy ra trước khi gia đình tôi rời Hồng Kông, đi sang Anh Quốc, để định cư ở nước thứ Ba. Khi đó tôi đang đi làm ở Liên Hiệp Quốc. Lương tháng tôi chỉ khoảng $1200 đô la Hồng Kông. Do đi nhà thờ, nên tôi cũng đóng tiền 10% lương tháng của mình vào quỹ của Hội Thánh. Tháng đó, tôi hơi túng. Một buổi sáng đi làm, ngồi trên xe buýt 14 chỗ, tôi cầu nguyện và xem Chúa bảo đọc câu nào thì giở kinh thánh ra và đọc câu đó. Sáng hôm đó, Đức Chúa Trời bảo tôi đọc sách Ma-la-chi, chương 3, câu 10. Câu kinh thánh đó nói thế này:

    "Các ngươi hãy đem hết thảy phần mười vào kho, hầu cho có lương thực trong nhà ta; và từ nay các ngươi khá lấy điều nầy mà thử ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán, xem ta có mở các cửa sổ trên trời cho các ngươi, đổ phước xuống cho các ngươi đến nỗi không chỗ chứa chăng!"

    Tôi thấy Đức Chúa Trời hứa lớn quá. Ngài nói là Ngài sẽ mở cửa sổ trên trời, đổ phước xuống cho tôi, nhiều đến nỗi tôi không có chỗ chứa nữa. Tôi chỉ biết cúi đầu, xin Đức Chúa Trời làm theo ý muốn tốt lành của Ngài mà thôi.

    Ba hôm sau, tôi nhận được một cú điện thoại từ YWAM bên Hồng Kông. Người gọi điện thoại cho tôi là cô Nora Young. Cô nói với tôi là cửa hàng Watson cần người làm hề chiêu khách, cô thấy tôi là người biết một chút kịch câm, cô mời tôi đi. Cô nói là người ta sẽ trả lương $100 đô la Hồng Kông 1 tiếng đồng hồ, kể cả thời gian đi lại. Có nghĩa là từ khi tôi ra khỏi nhà, cho đến khi tôi vào lại cửa, toàn bộ thời gian đó tôi có thể khai và họ sẽ trả lương như vậy. Tôi thật không ngờ. Thế là trong 2 tháng trời, chỉ làm việc cuối tuần không thôi, tôi đã thu được tổng số là $17500 đô la Hồng Kông, đấy là chưa kể lương tháng tôi lấy được ở Liên Hiệp Quốc nữa. Đức Chúa Trời quả nói thế nào, Ngài làm thế ấy. Ngài cũng báo trước cho tôi nữa. Thật tôi chưa bao giờ kinh nghiệm được những việc như thế trong đời.
  • hoangduytranuk  Offline  ( 93.97.89.198 )
    Quả thực, lúc đó, tôi cũng chẳng biết rõ "sự cao trọng cả thể của những sự tỏ ra ấy chăng" là gì. Phép lạ thì tôi đã được kinh nghiệm rồi. Phép lạ ấy xảy ra thế này. Khi tôi còn sống ở YWAM, sau tuần đầu tiên tham gia biểu diễn với đội Windows ở bến phà Tsim Sha Tsui, bên Kowloon, tôi khát nước nhưng trong túi không có tiền, và cũng chẳng dám hỏi ai trong số anh em cùng đội. Tôi nhịn khát đến khi về lại cơ quan mới được uống nước. Tuần sau đó, hôm thứ Tư, tôi nghĩ đến việc thứ Bảy phải đi biểu diễn nên trước khi đi ngủ, tôi quì gối xuống chân giường, cầu nguyện với Đức Chúa Trời rằng, "Lạy Chúa, nếu Ngài là Cha của con, chắc Chúa biết là con cần ít tiền để mua nước uống. Xin Cha cho con. Nhân danh Đức Chúa Giê-xu Christ, A-men". Cầu nguyện thế xong, tôi đi ngủ. Sáng hôm sau, thứ Năm, tôi lại đi làm công việc được phân công như thường. Đến chiều, khoảng 4:30, tôi về lại phòng mình. Vừa bước vào phòng, việc đầu tiên là tôi nhìn vào giường của mình, xem có gì không. Tôi không thấy trên giường có gì. Tôi lại gần, giở cái gối lên. Lạ quá, dưới gối có một cái phong bì trắng nhỏ. Tôi giở phong bì ra, trong đó có $10.00 đô-la Hồng Kông, thừa sức mua nước uống. Tôi mừng chảy nước mắt. Không biết Đức Chúa Trời đã cảm động ai và để phong bì tiền dưới gối cho tôi.
  • hoangduytranuk  Offline  ( 93.97.89.198 )
    Hơn một năm sau, tôi làm việc ở Văn Phòng Liên Hiệp Quốc dành cho Người Tỵ-Nạn, vì lúc này, vốn tiếng Anh và tiếng Hoa của tôi cũng tương đối khá, nên họ nhận tôi. Khi vào tiếp kiến với ông trưởng phòng, người Hồng Kông, lúc đầu tôi nói tiếng Hoa với ông, song chỉ được vài câu, khi ông ta giở tiếng Anh ra với tôi, tôi cũng đáp lại bằng tiếng Anh với ông. Thế là ông ta biết trình độ của tôi và nhận tôi vào làm ngay.

    Trong phòng làm việc, tôi quen một người phụ trách một số thuyền nhân tị-nạn, người Singapore. Bà ta tên là Barbara. Nếu ai làm bạn với tôi ở trên trang www.facebook.com (người dùng: hoangduy.tran) thì có thể vào xem danh sách bạn bè của tôi. Bà Barbara cũng ở trong đó. Bà là người có tính cương nghị và thẳng thắn, tuy hơi khách sáo, nhưng lại rất hào phóng. Bà coi tôi như con và vẫn thường rủ tôi đi ăn trưa. Bữa nào bà cũng trả tiền, tôi chẳng phải đưa ra một xu, mà cũng chẳng đủ tiền mà trả nữa, vì các nơi bà đi đều là những nơi cao lương mỹ vị cả. Nhờ có bà mà tôi cũng được hưởng đôi chút hương phấn của Hồng Kông. Một hôm bà rủ tôi về nhà chơi, nghỉ lại cuối tuần. Tôi đến nhà, ăn tối hôm thứ Sáu, ngủ qua đêm và đến sáng thứ Bảy, tôi thức dậy sớm. Lúc tôi dậy, cả nhà vẫn còn ngủ yên. Tôi bò ra ngoài hành lang với quyển kinh-thánh tôi vẫn mang theo trong túi. Ra đến đầu hành lang, tôi ngồi, nhìn ra ngoài đường, và khóc. Tôi khóc vì tôi nghĩ đến những ỹ nghĩ trong đầu tôi, về tính tò mò những người đồng giới của mình, vì cái bệnh mà tôi đeo đẳng trong người bao nhiêu năm nay. Tôi khóc và hỏi Đức Chúa Trời tại sao tôi lại bị như vậy. Tôi bỗng thấy trong đầu tôi hiện ra dòng chữ "II Cô-rinh-tô", rồi tôi thấy số 12, số 7. Tôi biết là tôi phải giở kinh-thánh ra, sách "II Cô-rinh-tô", chương 12, câu 7. Tôi giở ra và câu kinh-thánh đó nói thế này:

    "Vậy nên, e rằng tôi lên mình kiêu ngạo bởi sự cao trọng cả thể của những sự tỏ ra ấy chăng, thì đã cho một cái giằm xóc vào thịt tôi, tức là quỉ sứ của Sa-tan, để vả tôi, và làm cho tôi đừng kiêu ngạo."

    Tôi như người tỉnh mộng. Xuốt bao nhiêu năm nay tôi lo lắng về bệnh tật của mình, không biết rằng tất cả những gì xảy ra với tôi đã được định từ trước. Trước khi sinh tôi ra, Đức Chúa Trời đã biết rằng có một ngày tôi sẽ rời Việt Nam, sang Hồng Kông, và do có bệnh trong người mà tìm đến Chúa để hỏi Ngài về bệnh tật của mình. Biết tôi có tính tự kiêu, tự ngạo, Ngài đã bố trí cho tôi đẻ non, để tôi cảm thấy yếu đuối và có bệnh đồng tính luyến ái, để khi Đức Chúa Trời ban phước cho tôi, thì cái bệnh đeo đẳng kia sẽ cầm giữ tôi, không cho tôi lên mặt (lên mình) với mọi người. Tôi không khóc nữa và trong lòng cảm thấy sự bình an vô hạn.
  • hoangduytranuk  Offline  ( 93.97.89.198 )
    Quả nhiên, bữa đầu tiên sang đến nhà số 10 đường Borrett, (Borret Road hay "Pố Lẩu Tầu"), chúng tôi bị "bỏ đói". Không phải vì không có thức ăn, nhưng bữa trưa, người ta ăn toàn đồ tây với sà-lách, khoai tây luộc v.v.. làm sao mà chúng tôi ăn được chứ. Trước đấy, đứa nào trong chúng tôi cũng đi làm, hoặc ăn cơm hộp mua ở ngoài đường với thịt gà hay thịt lợn quay, hoặc mang cơm ở nhà đi, chẳng đứa nào động đến sà-lách hay đã kinh qua ăn cơm tây bao giờ. Đợi mãi đến chiều chúng tôi mới có được ăn cơm. Mấy người quản lý trong lớp biết chúng tôi không quen ăn đồ tây nên đã bố trí mua mì hộp và để ở trong kho cho chúng tôi. Chỉ cần vào lấy mì ra nấu và bỏ vào quỹ mấy chục xu là được. Đây cũng là một thử thách về tính thực thà. Đồ ăn thì có sẵn, cũng chẳng ai quản lý hay xem xét chúng tôi có bỏ tiền vào hay không. Nhưng người ta cũng tin vào Đức Chúa Trời quản lý lương tâm chúng tôi và tin rằng chúng tôi sẽ không 'ăn quịt'. Thiếu tiền tiêu là một nỗi khổ tôi vốn quen rồi nhưng khổ đến đỗi bị bỏ đói thì chưa quen cho lắm. Ở nhà, không có cái nọ thì ăn cái kia, cả đời tôi chưa bao giờ phải lo là bữa tới tôi sẽ lấy gì để ăn. Bây giờ sang đây, điều đầu tiên tôi phải làm quen là ăn cơm tây. Sáng thì ăn bánh mỳ lát nướng quết bơ, ăn bỏng ngô rang với sữa bò rắc đường kính và ăn hoa quả. Trưa thì ăn sà-lách với khoai tây nướng bỏ bơ hoặc phó-mát (cheese). Những thức ăn này hoàn toàn xa lạ với chúng tôi, những kẻ cả đời chỉ biết bánh mì kẹp thịt và rau ghém, cơm rang, phở gà, phở bò, bánh bao, bánh cuốn, hoặc bánh cuổi cho bữa sáng, rồi cơm hộp ăn trưa và cơm ở nhà nấu ăn tối. Bây giờ sang đây, ăn toàn những đồ ăn ở đâu đâu, xa lạ với khẩu vị mà chúng tôi vốn biết. Thật khó quá. Nhưng rồi đói thì phải ăn, và ăn lâu rồi cũng quen quen. Nói là quen chứ thực ra, ngay cả bây giờ, sau 23 năm sống ở Anh Quốc, tôi cũng không thích ăn cái kiểu đó, tuy được biết và đã "sóng gió" bao năm với chúng.

    Trong 6 tháng trời, hằng ngày chúng tôi lên lớp học, nghe thày giáo giảng kinh-thánh. Những người giảng đều nói tiếng Anh, và có người phiên dịch sang tiếng Quảng Đông. Chúng tôi cũng có một chị người Việt, ở Mỹ sang, nói tiếng miền Nam và tiếng Quảng, tên là Becky, nhưng vì chúng tôi chỉ có mấy người, Becky chỉ thỉnh thoảng mới giúp được chúng tôi thôi. Chúng tôi cứ phải dựa vào vốn tiếng Hoa nhỏ bé của mình mà 'căng đầu' ra để cố gắng hiểu được những gì họ nói. Thời gian đầu khổ lắm. Không biết bao nhiêu lần tôi ra ngoài, lang thang một mình và cứ thầm cầu nguyện với Đức Chúa Trời, mong Chúa giúp tôi học được tiếng Anh, để tôi hiểu được những gì họ nói. Tuy trước đó tôi có đi học mấy lớp tiếng Anh ở trong trại và bản thân cũng cố gắng trau dồi, nhưng lượng từ người ta dùng ở trường thật quá khủng khiếp đối với tôi. Được phân ở chung với người Anh cũng là một điều mà ban quản lý trường học nghĩ đến. Họ biết là nếu chúng tôi cứ ở chung với nhau thì sẽ không đứa nào tập nói tiếng Anh cả, cho nên 4 đứa chúng tôi được phân ra ở chung với anh em người Anh, người Mỹ chứ không ở chung phòng. Do phải sống với người chỉ biết nói tiếng Anh, cái gì chúng tôi cũng phải hỏi. Từ đôi dép lê đi trong phòng, đến cốc, chén, bát, đĩa, và các đồ dùng cá nhân ở chung quanh mình đến những cái lớn hơn, trừu tượng hơn. Đến bây giờ tôi mới thấy điều này là một điều căn bản trong việc dạy người khác học tiếng nước ngoài. Khi chúng tôi không còn cơ hội để sử dụng tiếng mẹ đẻ nữa, chúng tôi bắt buộc phải học tiếng của người ta, cũng như khi chúng tôi đi làm, vì người ở công xưởng toàn nói tiếng Hoa, chúng tôi ai cũng phải học vài ba câu tiếng Quảng. Nói nhiều rồi đâm quen, như con vẹt, thấy người ta nói thế nào, chúng tôi bắt trước nói như thế. Gần đây, khi đi dạy cho người khác tiếng Anh tôi mới để ý về quá trình học nói của trẻ con. Từ lúc 2 tuổi trở lên, tức là lúc mớp bặp bẹ biết nói, cho đến khi đi học lớp mẫu giáo, 5 tuổi, trẻ con có 3 năm để nghe, bắt chước cha mẹ và những người chung quanh chúng. Khi chúng học nói, chúng quan sát tình cảm, đồ vật và nghe âm thanh biểu đạt về đồ vật và tình cảm đó. Khi hai cái được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, mối liên quan giữa âm thanh và hình ảnh được liên kết và tạo nên ngôn ngữ. Nếu có ai đó muốn học tiếng nước ngoài thì hãy để ý đến điều này. Bởi vậy, bây giờ đi đâu giúp người không biết tiếng Anh, tôi vẫn khuyên họ học bằng cách xem truyền hình (TV) tiếng Anh, đặc biệt là những kênh có phụ đề, như BBC, ITV, Channel 4 etc... Vì cái này chính là nguồn đầu tiên tôi sử dụng để học nghe và học nói khi sang đến Anh Quốc. Học TV có cái hay là nghe người ta nói và xem được cả chữ. Nắm được câu cú và cách nói nữa. Nếu mình cứ nghe rồi bắt chước cách nói, như một con vẹt, vì trẻ con, khi học nói, cũng bắt chước người ta như vậy, thì mình sẽ biết cách nói. Tôi cũng khuyên là nên xem những kênh có chương trình cho các cháu nhỏ trước, vì ở đó, người ta dạy những kiến thức căn bản và sơ khởi, dễ học hơn. Cái căn bản hơn cả là phải SỐNG VỚI NGƯỜI ANH, nghĩa là phải tự cô lập bản thân. Phải tạo nên hoàn cảnh không có ai để giao tiếp bằng thứ tiếng khác ngoài thứ tiếng mình muốn học. Chớ vội học tiếng bằng chữ. Trẻ con khi học nói, chúng không biết nửa chữ, nhưng đến 5 tuổi, nhiều đứa trẻ nói vanh vách. Chẳng thế mà người Việt Nam mình có câu "ngôn ngữ". "Ngôn" là "nói" và "ngữ" là "chữ". Vậy "nói" đi trước "chữ". Học ngôn ngữ nên học nói trước, trước khi học chữ. Chính vì thế mà bản thân tôi hiện nay, do sống ở Hồng Kông 5 năm, tuy chỉ biết vài ba chữ Trung Quốc, nhưng tôi có thể giao tiếp và phiên dịch những cái căn bản trong cuộc sống bằng tiếng Quảng Đông. Cái lợi thế của tiếng Việt là tiếng Việt cho phép mình ghi lại các âm lên cao, xuống thấp tương đối chuẩn xác. Không những thế, do tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Quảng Đông, nên rất nhiều chữ chúng ta dùng, tuy phát âm hơi lệch một chút, từ và nghĩa hoàn toàn giống như tiếng Việt.

    Trường dạy chúng tôi là Đức Chúa Trời có thể nói chuyện và giao lưu được với chúng ta và cách mà chúng ta giao lưu với Ngài là thông qua Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh là một trong 3 ngôi của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời có 3 ngôi là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, tức là Chúa Giê-xu, đấng Cứu Thế, và Đức Thánh Linh tức người cùng mình giao lưu với Đức Chúa Trời. Chính vì thế, trong kinh thánh có nói: "Cũng một lẽ ấy, Đức Thánh Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đức Thánh Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta." (Rô-ma 8:26). Nói là vậy còn bằng chứng ở đâu cơ chứ? Tôi cũng chẳng dám cãi vì mình đâu có hiểu gì mà vấn đáp, người ta nói làm sao, biết vậy.

    Sau khi học song khóa, chúng tôi phải đi thực hành. Tôi xin vào nhóm đi biểu diễn vở múa kịch câm dài 45 phút "Tribute" (Lễ Hiến) vì tôi thích nhảy múa. Một hôm nhóm họp cả ban, tôi chẳng nhớ rõ lắm vì sao, nhưng trong người cảm thấy rất bực dọc. Khi vào trong phòng nhóm, tôi ngồi đối diện với một cô người Úc, tên là Robin. Vừa ngồi xuống được một chút, Robin bỗng nói rằng: "Tôi được Đức Chúa Trời cho tôi một câu kinh-thánh". Cô ta giở câu đó ra và đọc. Tôi còn nhớ là nó nói về người có tính bực tức, giận hờn. Tôi thấy lạ quá. Mình chẳng nói cho ai biết về tâm can của mình mà tại sao cô ta biết được chứ, và làm sao mà cô ta biết câu nào ở trong Kinh-Thánh mà đọc ra, đúng với nội tâm của tôi lúc đó như vậy? Tôi cảm thấy hơi sờ sợ, và cái tính tò mò của tôi lại một lần nữa bột phát. Tôi thầm nghĩ hay những gì họ nói trong khóa học về Đức Chúa Trời nói chuyện với người ta là có thật và nó là thế này đây. Bán tín, bán nghi, tôi cứ để trong lòng.

    Một hôm, tôi đi xuống phố Hồng Kông chơi với một anh người Thụy Điển. Anh ta đánh đàn rất hay và vẫn đánh đàn ghi-ta cho Hội Thánh hát thánh ca mỗi khi chúng tôi nhóm họp, thờ phượng Chúa. Anh ta cũng là một thành viên trong nhóm đi biểu diễn vở "Lễ Hiến". Khi ngồi trên xe tắc-xi trên đường về, không hiểu sao, tôi bỗng có ý tò mò với anh ta. Cái tính tò mò bệnh hoạn ấy quay trở lại hoành hành tôi và bắt tôi phải nô lệ nó. Tôi như kẻ đui mù, cứ hành động theo quán tính của thói quen xác thịt. Hình như anh ta biết tôi có ý, nhưng vì tôi chưa làm gì động chạm đến người nên anh ta chẳng nói năng một lời. Khi xe tắc-xi dừng ở trước cổng, tôi cuống cuồng xuống xe, chạy thẳng vào phòng riêng của mình. Lương tâm tôi cáo trách tôi vô cùng. Tôi quì xuống chân giường và cầu nguyện Chúa, mong Chúa thứ tội cho tôi vì những thói quen xấu xa và những ý nghĩ bẩn thỉu trong lòng. Bỗng nhiên, trong đầu tôi, lần đầu tiên, tôi nhìn thấy chữ "Ga-la-ti" rồi thấy số 5, số 1. Tôi tự biết là phải giở kinh thánh ra, sách Ga-la-ti, chương 5, câu 1. Tôi giở quyển kinh thánh nhỏ bằng tiếng Việt mà tôi mang theo và câu kinh thánh ấy nói thế này:

    "Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do; vậy hãy đứng vững, chớ lại để mình dưới ách tôi mọi nữa."

    "ách tôi mọi" tức là "ách nô lệ". Tôi bị cái bệnh của xác thịt không bình thường này biến tôi thành kẻ nô lệ cho nó đã bao năm nay. Nhưng khi tôi đi tin Chúa thì Chúa Giê-Xu, vì Ngài đã chết thay cho tội của tôi, nên Chúa đã tha tội tôi, để tôi được tự do. Chúa chỉ khuyên tôi là hãy đứng vững, đừng lại để cho thói quen xác thịt ngày xưa quay lại, biến mình thành kẻ nô-lệ một lần nữa. Chao ơi! lời của một người Cha ở thiên đường. Sao nó êm ái và nhẹ nhàng, thanh thoát nhưng sâu sa, cương nghị nhưng không giận dữ. Tôi chưa từng thấy ai nói với tôi như vậy trong cả đời mình. Nếu phải bố đẻ tôi, được tôi bày tỏ hết cho các tội mà tôi đã làm như vậy, chắc ông sẽ chỉ tay tôi nằm lên giường và phang cho tôi một trận nhừ tử, chứ không phải vừa. Tôi cảm động hết sức và cũng vui mừng vô cùng, vì lần đầu tiên, tôi được Đức Chúa Trời đích thân nói chuyện với tôi và chỉ dạy tôi, thông qua Kinh Thánh của Ngài. Biết tôi không thuộc kinh-thánh, Ngài cho tôi tên sách, số câu, số chương. Tôi chỉ việc giở nó ra là ở đó, tôi sẽ thấy lời Ngài muốn nói với tôi.
  • hoangduytranuk  Offline  ( 93.97.89.198 )
    Bên cạnh cái ý muốn chứng minh sự có thật của Chúa cho bản thân mình, tôi còn muốn một điều thứ hai nữa. Điều này có tính rất cá nhân và kín đáo đối với tôi. Từ khi còn nhỏ, tôi đã phát hiện một điều về bản thân. Tôi không bình thường. Không phải là bị dị dạng hay có khuyết tật gì trên cơ thể nhưng về cái tính "con gái" của tôi. Mẹ tôi kể là tôi bị đẻ non. Mẹ tôi mang thai tôi được bảy tháng đã phải sinh con. Đẻ non, nên tôi rất bé và yếu đuối. Bố tôi cũng không dám bế và tôi phải ở trong bệnh viện, nuôi trong tủ kính mất một tuần lễ. Lớn lên, tôi hay ốm vặt. Đủ thứ bệnh. Quyển sổ y-bạ của tôi kín đặc, hết quyển này đến quyển khác. Ấy cũng may cho tôi là mẹ tôi lại là một y-sĩ của bệnh viện Bạch Mai ở Hà Nội, nên thuốc thang và chẩn đoán cũng khá chính xác. Có lẽ cũng vì biết mình yếu đuối nên tôi bám mẹ tôi lắm. Tôi còn nhớ là khi tôi đã 10 tuổi đầu, tôi vẫn còn đi ngủ với mẹ. Nhà có hai anh em, tôi là út lại yếu đuối, nên bố mẹ tôi chiều tôi lắm. Nhưng cái tính "con gái" của tôi thì hình như chẳng ai cho rằng là không bình thường cả. Tôi thích học đan lát, khâu vá. Mẹ làm gì là tôi học làm nấy. Chẳng bao giờ tôi ra ngoài đường đi đá bóng cùng lũ bạn trai của ông anh, chỉ thích hát hò, múa may và chơi nhảy lò cò, chơi nhảy dây hoặc chơi chuyền với quả bưởi con và mấy que kem. Lớn lên, khi sinh dục đã phát triển, tôi không cảm thấy thích đàn bà con gái như mấy đứa bạn cùng học. Chúng nó suốt ngày nói chuyện về cô này, cô kia trông đẹp, "ngon mắt" v.v.. nhưng tôi chẳng thấy có cảm giác gì ngoài việc nhận thức họ cũng là người như mình và khác giống. Tôi hay tò mò muốn biết người đàn ông có cái gì. Lạ thật, biết rõ mười mươi là họ cũng như tôi, nhưng cứ như một kẻ bị nô-lệ, ý nghĩ tò mò ấy chẳng bao giờ rời bỏ tôi cả. Mãi đến khi sang đến Hồng Kông rồi tôi mới xác định được cái tên của bệnh mà mình có. Tôi nghĩ, ngay lúc đó, ngay cả những người Việt ở trong trại tỵ-nạn cũng không biết cái bệnh của tôi là gì, vì hình như chữ ấy không có trong từ điển Việt Nam thì phải. Cũng phải dò dẫm một thời gian, học tiếng Quảng, rồi tự dịch ra, mới biết chữ "Thùng Sênh Luỷn Ôi" là "Đồng Tính Luyến Ái". Biết là mình khác với mọi người, nhưng xuốt 22 năm trời sống ở Việt Nam, tôi chẳng biết giải thích bệnh tật của mình ra sao nữa, vì cũng chẳng biết ai đáng tin mà hỏi, và hình như cũng chẳng ai biết bệnh đó là gì.

    Bây giờ, nghe Nguyên nói có Chúa, hay có ông Trời thật, tôi muốn đi tìm hiểu xem làm sao để tìm và gặp được ông Trời, và nếu gặp được, tôi sẽ hỏi ông Trời là tại sao tôi bị cái bệnh quỉ xứ này. Không hiểu sao, tôi lại nghĩ là có thể hỏi Chúa được lúc đó nữa, nhưng tôi muốn đi để tìm hiểu cho ra ngọn nguồn và để hỏi cho ra nhành, ra nhẽ. Thế là tôi quyết định đi theo Nguyên, đến nhà thờ Tin-Lành của người Tỵ-Nạn Hồng Kông. Nhà thờ nằm ở "115 Tam Kung Road" (Tàm-Cống Tầu) - "Tầu" tiếng Quảng là "Đạo", hay "Đường" trong tiếng Việt. Hồi đó, mục sư Trương Văn Tốt là mục sư và là người chủ chì hội thánh. Số người đi nhà thờ cũng khá đông. Nhà thờ có cả ban thanh niên, ban phụ nữ và ban chấp sự và có cả người đánh đàn pi-a-nô mỗi khi hát Thánh Ca. Nói chung tổ chức rất quy củ. Tôi thích hát những bài hát thánh ca. Không phải vì tôi thích hát từ nhỏ, và cũng có một giọng hát tương đối cao, nhưng vì âm nhạc cũng những bài thánh ca có cái gì đó rất trung trực, thật thà, nhưng cũng đầy chất ngợi ca, vinh quang và hoành tráng. Nếu biết phối âm đường hoàng, với bè trầm, bè cao đủ bốn giọng, những bài hát đó có thể làm rung chuyển cả không gian chung quanh mình. Đặc biệt là có những bài do người Việt viết, ở gam thứ, nói về Chúa Giê-Xu, hoặc bài hát tưởng niệm mỗi khi ăn tiệc Thánh. Nghe rất cảm thương, thống thiết, nhưng không não nề, không thất vọng. Tôi rất khoái. Thú thật mà nói, về phần Kinh Thánh, tôi cứ đi, cứ nghe, nhưng cứ như vịt nghe sấm. Tôi chẳng hiểu gì cả. Nói chung lúc đó, toàn bộ quan niệm về Chúa Cứu Thế Giê-Xu, về Đức Chúa Trời hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Nhưng không hiểu sao, cái khao khát tìm được Đức Chúa Trời và hỏi Chúa câu hỏi mà tôi có trong lòng về bệnh của mình cứ khăng khăng trong tôi và tôi cứ đi nhà thờ, cứ nghe giảng, cứ học Kinh-Thánh, cứ hát ngợi ca Chúa. Hình như tất cả những gì tôi làm là để phục tùng Chúa và mong có một ngày Chúa sẽ thấy sự phục tùng của tôi mà tỏ cho tôi biết Ngài là ai vậy.

    Đi nhà thờ được mấy tháng, tôi nghe theo ông mục sư và làm phép báp-têm. Tôi không còn nhớ rõ lắm có phải là cả gia đình tôi cùng làm lễ báp-têm một ngày hay không, nhưng sau khi đi nhà thờ được mấy tuần lễ, tôi về kể cho bố mẹ, anh trai và em gái tôi, tôi rủ cả nhà cùng đi. Đi nhiều rồi thành thói quen, không đi không được, cảm thấy áy náy trong lòng thế nào ấy. Mà đi nhà thờ cũng vui. Mẹ tôi thì tham gia ban phụ nữ, tôi, ông anh trai và con em gái cũng tham gia ban thanh-niên, đi nhóm họp tối thứ Tư và tập hát để đến sáng Chủ Nhật, cả ban đứng lên hát Thánh Ca cho Hội Thánh nghe. Tôi khoái đi học hát lắm. Ông mục sư cũng bảo ban thanh niên phải học thuộc lòng bảng mục lục của Kinh Thánh để khi ông giảng và nói câu kinh thánh ở sách nào, câu bao nhiêu, thì ai cũng biết mà giở ra cho nhanh. Thực ra mà nói, cái này ông bảo cả Hội Thánh phải làm, nhưng ban thanh niên là nơi ông nhắc nhiều, thành ra chúng tôi ai cũng cố gắng làm theo.

    Sau hai năm đi nhà thờ, đội YWAM (Youth With A Mission - Thanh Niên với Sứ Mệnh, hay gọi như tiếng Hoa là "Thanh Niên Sứ Mệnh Đoàn" (Tsếnh Nìn Sỉ Mềnh Thuỳn)) có đến nhà thờ tôi và nói cho chúng tôi biết là họ có một lớp học Huấn Luyện Môn Đồ (Discipleship Training School) ở bên cơ quan của họ, mãi bên đảo Hồng Kông. Tôi chưa bao giờ sang đó, lại nghe thấy lớp học có tiếng Anh và tiếng Quảng Đông, tôi khoái lắm, muốn đi để học tiếng Anh, nên tôi xin đi. Tất cả có 4 người trong nhà thờ tôi xin đi. Tôi, ông anh trai, anh Viễn và anh Đạt. Chúng tôi đều đồng ý với điều kiện là không được phép đi làm trong khi đang đi học, phải tập cầu nguyện Chúa để Ngài cung cấp cho nhu cầu về ăn uống, chỗ ở, chi phí cần dùng v.v. của chúng tôi.
  • hoangduytranuk  Offline  ( 93.97.89.198 )
    Tiện đây tôi gửi câu chuyện tôi muốn viết về kinh nghiệm bản thân sau khi rời Việt Nam:

    Tháng 6 năm 1982, trước ngày sinh nhật lần thứ 22 của mình, tôi rời Việt Nam. Cả gia đình đi nên tôi cũng thấy khoa khoái trong lòng, vì chẳng mấy khi được đi xa như thế. Tôi cũng chẳng mường tượng điều gì về nước trong hay nước ngoài, vì có bao giờ được đi ra khỏi Việt Nam đâu. Đến ra khỏi cái thành phố mà tôi sinh ra thôi, tức là Hà Nội, cũng ít khi được đi, huống hồ. Bây giờ có dịp đi xuống Hải Phòng, rồi đi thuyền ra nước ngoài. Đối với tôi nghe nó viển vông quá. Tôi cứ để mặc cho cuộc đời cuốn. Đi đến đâu thì đến. Cứ biết là được đi chơi cái đã. Thế cũng là khoái lắm rồi. Tuy thế nhưng tôi cũng ý thức được rằng, chắc chuyến đi này là một chuyến đi xa, đi "không lối về", nên khi ra bến xe buýt ở đầu dốc Hàng Than, tôi đứng đó và nghĩ là mình phải nhớ lại cái cảnh cuối cùng của cái thành phố này mới được. Nghĩ thế nào làm thế ấy. Điều đầu tiên tôi để ý là trời nắng. Cái nắng oi ả, tuy cho người ta cái cảm giác là một ngày đẹp trời và khá trong trẻo lúc buổi sáng, song hình như báo cho người ta một ngày mới nóng nực và tràn đầy mồ hôi. Những cái xe buýt cũ kĩ, bụi bám đầy và sơ sước với các vết sơn tróc. Có những xe sắp đi, hàng chất đống trên nóc. Người ngồi trong xe chật ních. Một số người không chịu nổi cái nóng, ra ngồi đợi trên vỉa hè. Cái đập vào tai tôi là tiếng của đài phát thanh. Tôi vẫn còn nhớ lời bài hát "anh chỉ nghe em hát vang lên trong biển mây, anh chỉ nghe tiếng cười vang lên giữa rừng cây, mà người đâu chẳng thấy, mặt người thương chẳng thấy. Ôi Sa-pa mù sương...". Sau này mới biết đấy là bài "Sapa thành phố trong sương" của nhạc sĩ Vĩnh Cát. Bài hát được một ca sĩ khá nổi tiếng lúc đó trình bày, đó là ca sĩ Ngọc Tân. Chất giọng không ấm nhưng trong và vang, mềm mại, không gân guốc và chau chuốt như các ca sĩ cũ.

    Ông chủ thuyền là một người dân chài chân chất. Ông ta đông con và cũng có mấy người anh em nữa. Tuy thế, tôi thấy ông là một người rất thẳng và cương trực. Không mè nheo tính toán, cũng không bẩn tính, ki kiết. Bảo thế nào làm thế ấy. Nhưng cũng không phải là người ngu đần. Rất sáng suốt kia nữa. Ông nói gì là mấy đứa con răm rắp nghe theo, chẳng đứa nào dám cãi nửa lời. Số vốn kinh nghiệm đi thuyền chài gom góp trong cả đời của ông hình như quá lớn so với những gì lũ trẻ biết, nên chúng chẳng dám cãi. Với lại, mỗi lời ông nói cũng hình như được giải nghĩa cả rồi thì phải, và là một lẽ tất nhiên, nên chẳng ai dám mè nheo gì. Ông là cột trụ của cái gia đình đông đúc ấy ở ngoại ô Hải Phòng. Nhà ông ở gần con đê bên triền sông.

    Mười một ngày đêm dòng trên thuyền với không ít hoảng hốt về sóng to bão lớn, về cơ nan thuyền bị chìm trên biển Đông, chúng tôi, 65 người, từ khắp nơi trên Việt Nam, đa số là dân Hà Nội, cặp bờ biển Hồng Kông an toàn. Không thể nào tả siết nỗi vui mừng khi chúng tôi nhìn thấy những vỏ ống nước ngọt và giấy in chữ Trung Quốc trôi lềnh bềnh trên sóng, vì biết rằng chúng tôi sắp đến nơi mà cuộc sống sẽ tràn đầy thức ăn, tha hồ công việc để làm mà kiếm tiền và biết bao cơ hội để học hành, tấn tới. Ấy là chưa nói đến cơ hội để học tiếng nước ngoài nữa, những cái mà khi tôi còn ở Việt Nam, ở cái làng nhỏ bé bên bờ sông Cầu Diễn ấy, tôi chẳng bao giờ dám nghĩ đến.

    Sau 3 tháng ở trong nhà tù ở phố Argyle Street, tieesng Quáng Đông là "A-Cái-Lẩu Cái" - "Cái" là phố, còn A-Cái-Lẩu là dịch âm theo chữ Anh Argyle - chúng tôi được đưa ra trại tự do, ngay bên cạnh sân bay - gọi là "Kai Tak North Camp" - (Khẩy-Tắc Zềnh). Khi mới vào trại, chúng tôi được đưa ra cái sân ở đằng sau trại, nơi chúng tôi phải ngồi, chờ đăng ký và phân phát giường để ở. Đúng, phân phát giường, là vì trong trại không có nhiều chỗ ở và mỗi một tòa nhà, hoặc một cái Hút .... được trang bị rất nhiều giường tầng. Mỗi giường 3 tầng, và gia đình tôi được 1 cái giường như thế, vì bố mẹ sẽ ngủ một giường, em gái tôi được một giường riêng, còn tôi và ông anh lớn được riêng một cái. Chân giường là nhà bếp, và đầu giường là tủ quần áo. Đa số kiếm được miếng vải gì, hoặc lấy chăn đã phát cho, làm màn che giường, song nhiều người còn ra ngoài, kiếm được mấy miếng gỗ, đóng vây chung quanh, biến giường thành một cái phòng riêng hẳn hoi, bảo đảm kín đáo và riêng tư cá nhân. Ở trên mạng có một số bức ảnh của trại chụp khoảng 1985, xem tại địa chỉ sau:

    "http://www.flickr.com/photos/26093461@N00/sets/72157626560187834/detail/"

    Đến trại được mấy ngày, tôi quen một anh người Sài Gòn, tên là Nguyên. Nguyên ít tuổi hơn tôi nhưng chững chạc, ăn nói rất có suy nghĩ và đặc biệt giỏi ngoại ngữ. Tôi để ý thấy Nguyên đang nói chuyện với tôi, đột nhiên thấy một anh cảnh sát người Hồng Kông đi ngang, anh ta liền quay ra đùa cợt với ông cảnh sát đó bằng tiếng Quảng. Một lúc sau, thấy có một người Anh đi qua, Nguyên lại lộn sang chào hỏi và rỡn với người đó bằng tiếng Anh. Tôi hỏi Nguyên đã sang đây bao lâu rồi, Nguyên nói là đã sang được 4 năm. Nguyên dẫn tôi đến công xưởng và giới thiệu việc cho tôi làm và cũng chính Nguyên là người dẫn tôi đến nhà thờ dành cho người tỵ-nạn ở HK. Khi Nguyên rủ tôi đi, tôi không đi ngay, khất một tuần sau. Trước khi đi, tôi nghĩ thế này: trước ở Việt Nam tôi có đọc một số tiểu thuyết nói về các làng đạo của người Công Giáo, và có nghe là họ thờ Chúa gì đó. Rồi cũng có nghe đến các vị cha xứ v.v.. nhưng tất cả rất lu mờ. Tôi chỉ biết có vài nhân vật của trí tưởng tượng là Ngọc Hoàng Thượng Đế, Phật Thích Ca Mầu Ni và các vị La-Hán v.v.. thông qua cuốn tiểu thuyết nhiều tập Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Đối với tôi, một người được đào tạo qua 10 năm học dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa, Chúa hay bất cứ một nhân vật nào thuộc cấp ấy cũng đều chỉ đơn thuần là sản phẩm của trí tưởng tượng mà ra. Thế gian này chẳng có gì ngoài vật chất, hữu cơ, các nguyên tố hóa học và nguyên tử. Con người và tất cả thế giới động vật chung quanh ta chỉ đơn thuần là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của thiên nhiên. Gọi nôm na là như vậy, chứ thực tế, tôi cũng chẳng định nghĩa nổi chữ "thiên nhiên" là gì, chỉ đại khái hiểu là môi trường mình sống ở trong đó, tức là trái đất này và bầu khí quyển bao bọc nó. Thấy ở nhà trường dạy thế nào, tôi biết là thế.Tuy biết kiến thức là vô hạn, nhưng 10 năm mài đít quần ở trường cho tôi một cảm quan là tôi đã biết hết tất cả những gì cần biết về cấu trúc cơ bản của cuộc sống. Muốn có con thì phải lấy vợ, và những người già sẽ phải có một ngày ra đi, rời bỏ thế giới nhìn thấy, cảm thấy được này, và một khi đi là hết, chẳng còn gì nữa. Chẳng bao giờ tôi tự hỏi tại sao lại có người, tại sao lại có vũ trụ. Tôi chỉ biết là tôi phải sống, sống khẻo mạnh, và làm những gì mà người ta bảo là "nghĩa vụ" của một con người. Tức là phải ăn uống, phải chơi bời cho biết, phải tranh giành, phải khôn khéo, phải chăm cho bản thân mình và phải vật lộn để có thật nhiều tiền, quyền cao, chức trọng v.v.. Đương nhiên, bên cạnh đó, phải biết kính trên, nhường dưới, nghĩa là những gì đã nhắc đến trong gia đình, trong lớp học, trên đài, báo v.v.. và được coi là một phương diện của đạo đức làm người. Ở nhà và ra ngoài đường cũng thường thấy người ta cúng giỗ, nhưng thú thật mà nói, bọn trẻ chúng tôi chẳng quan niệm gì hơn ngoài cái cho rằng những việc người ta làm là theo tín ngưỡng, tức là theo những gì người đi trước bảo nên phải làm, và làm để được "phúc cho con, cho cháu". Ngoài những gì được nói cho biết, những gì tự quan sát thấy chung quanh, kiến thức về cuộc sống, về thế giới con người, thế giới thần tiên hay thế giới của trí tưởng tượng chỉ có thế thôi. Bây giờ nghe Nguyên dủ đi nhà thờ, trong lòng tôi có ý định là sẽ đi để tìm và tự chứng minh cho bản thân một điều: "Chúa có thật hay không".
  • hoangduytranuk  Offline  ( 93.97.89.198 )
    Minh theo đạo Tin-Lành. Khi còn ở Việt Nam mình chẳng biết gì là Đạo cả. Chỉ nghe thấy người ta nói đến Chúa, và Cha Xứ khi xem các tiểu thuyết mà thôi. Năm 1982, khi sang đến trại tị-nạn Hồng Kông, rồi gặp một anh người miền Nam, tên là Nguyên, anh ta mới rủ mình đi nhà thờ. Nguyên là một người rất giỏi ngoại ngữ, mới sang Hồng Kông 4 năm mà anh ta nói tiếng Quảng Đông (Tiếng Hoa, rất gần với chữ Nôm của mình) và tiếng Anh rất giỏi. Tôi noi theo gương của Nguyên và 4 năm sau, 1986, tôi cũng học được cả 2 thứ tiếng, đi làm phiên dịch cho Liện Hiệp Quốc. Nguyên đi nhà thờ Tin Lành Người Việt Ly-Hương và rủ tôi đi cùng. Tôi đi và làm theo những gì Hội Thánh dạy và tôi tìm được Đức Chúa Trời. Tôi nói có thể nhiều người sẽ không tin được, nhưng quả thực là như vậy. Khi tôi cầu nguyện, Đức Chúa Trời nói cho tôi biết tên sách trong kinh thánh, có 66 quyển, và số chương, số câu. Tôi chỉ cần giở kinh-thánh ra là thấy được lời Ngài muốn dạy. Tôi hỏi xin nhiều thứ lắm, kể không hết được, nhưng hầu như lần nào hỏi xin, Chúa cũng rộng lòng và cho. Kể cả xin tiền trong lúc túng bấn. Tôi chỉ hy vọng là có dịp nói cho các bạn hay về câu chuyện của đời tôi thôi. Chúa có thật. Nếu ai muốn đi thử thì tìm một nhà thờ Tin-Lành, tin Chúa, làm phép báp-têm và cứ vâng theo lời Chúa dạy trong kinh-thánh là sẽ tìm được Chúa. Chúa bảo sao cứ làm vậy. Làm rồi sẽ thấy kết quả của lòng tin mình. Chẳng có gì là Đức Chúa Trời không làm được đâu.
  • namfat  Offline  ( 118.70.128.60 )
    Nghe bác nói có vẻ bác là người theo đạo Thiên chúa. chúc mừng bác, tấm ảnh rất ấn tượng.
  • incon_incon  Offline  ( 113.190.163.138 )
    Quá đỉnh, ảnh quá đẹp
  • Đánh Khoá  Offline  ( 1.55.113.176 )
    chúc mừng năm mới bác và gia đình!cầu Chúa ban phước lành cho bác !